Năm 2023, trong bối cảnh tình hình kinh tế và chính trị thế giới diễn biến khó lường, kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5,05%, dù chưa đạt mục tiêu đề ra nhưng vẫn là một kết quả tích cực, nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu khu vực và thế giới. Tăng trưởng này cho thấy sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng với sự đồng lòng của các cấp, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân. Các chỉ số thống kê cũng phản ánh một nền kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp, cung cầu các mặt hàng thiết yếu được đảm bảo, hoạt động mua bán và tiêu dùng trong nước duy trì đà tăng trưởng tốt. [keyword: Kinh tế Việt Nam 2023]

Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm trong nước (GDP)

Tăng trưởng theo quý và cả năm

GDP quý IV năm 2023 ước tính tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của quý IV các năm 2012-2013 và 2020-2022. Xu hướng tăng trưởng GDP năm 2023 thể hiện sự tích cực, quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 3,41%, quý II tăng 4,25%, quý III tăng 5,47%).

Tính chung cả năm 2023, GDP ước tính tăng 5,05% so với năm trước. Tốc độ tăng trưởng này chỉ cao hơn tốc độ tăng của năm 2020 và 2021 trong giai đoạn 2011-2023.

Đóng góp của các ngành

Trong tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế năm 2023:

  • Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 8,84% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm.
  • Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,74%, đóng góp 28,87%.
  • Khu vực dịch vụ tăng 6,82%, đóng góp 62,29%.

Cụ thể hơn trong quý IV/2023:

  • Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,13%, đóng góp 7,51%.
  • Công nghiệp và xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 42,58%.
  • Dịch vụ tăng 7,29%, đóng góp 49,91%.

Sử dụng GDP

Về sử dụng GDP năm 2023, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,52% so với năm 2022, đóng góp 41,04% vào tốc độ tăng trưởng chung; tích lũy tài sản tăng 4,09%, đóng góp 26,64%. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 2,54%, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 4,33%. Chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 32,32%.

Riêng quý IV/2023, tiêu dùng cuối cùng tăng 4,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 53,18%; tích lũy tài sản tăng 6,21%, đóng góp 44,18%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,68%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,76%.

Quy mô GDP và GDP bình quân đầu người, năng suất lao động

Quy mô GDP năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD (với tỷ giá trung tâm bình quân năm 2023 là 1 USD = 23.784,2 VND). GDP bình quân đầu người năm 2023 ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284,5 USD, tăng 160 USD so với năm 2022.

Năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 199,3 triệu đồng/người lao động (tương đương 8.380 USD/người lao động), tăng 274 USD so với năm 2022. Theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 3,65% nhờ chất lượng lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2023 ước đạt 27%, cao hơn 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022).

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ cột vững chắc của nền kinh tế với tăng trưởng ổn định, khẳng định hiệu quả của chuyển đổi cơ cấu ngành.

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp năm 2023 tăng trưởng tích cực, duy trì vai trò hỗ trợ nền kinh tế. Diện tích lúa cả năm ước đạt 7,12 triệu ha, tăng 10,6 nghìn ha so với năm trước; năng suất lúa ước đạt 61 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 43,5 triệu tấn, tăng 0,8 triệu tấn. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 47,9 triệu tấn, tăng 790 nghìn tấn so với năm 2022.

  • Lúa Đông Xuân: Diện tích đạt 2.952,5 nghìn ha, giảm 39,8 nghìn ha nhưng năng suất đạt 68,4 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha, sản lượng đạt 20,2 triệu tấn.
  • Lúa Hè Thu: Diện tích 1.912,8 nghìn ha, giảm 2,8 nghìn ha; năng suất 57,6 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha; sản lượng đạt 11 triệu tấn.
  • Lúa Thu Đông: Diện tích ước đạt 708,8 nghìn ha, tăng 60,5 nghìn ha; năng suất 56,6 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; sản lượng ước đạt 4 triệu tấn.
  • Lúa Mùa: Diện tích 1.545,3 nghìn ha, giảm 7,7 nghìn ha; năng suất ước đạt 53,3 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng ước đạt 8,23 triệu tấn, tương đương vụ trước.

Đối với cây trồng hàng năm, diện tích một số cây như ngô, khoai lang, lạc, đậu tương giảm do hiệu quả kinh tế thấp, nông dân chuyển sang trồng rau màu hoặc cây ăn quả, cây thức ăn chăn nuôi. Diện tích cây lâu năm ước đạt 3.760,3 nghìn ha, tăng 1,1% so với năm 2022, trong đó cây công nghiệp đạt 2.161,4 nghìn ha (giảm 0,9%), cây ăn quả đạt 1.267,3 nghìn ha (tăng 4,1%). Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung quý IV/2023 ước đạt 103,5 nghìn ha, giảm 5% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2023, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 298,2 nghìn ha, giảm 2,7% so với năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại là 1.722,3 ha, tăng 53,5%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý IV/2023 ước đạt 2.516,3 nghìn tấn, tăng 2,6%. Cả năm 2023, sản lượng thủy sản ước đạt 9.312,3 nghìn tấn, tăng 2,2% so với năm 2022, trong đó nuôi trồng đạt 5.455,8 nghìn tấn (tăng 4,2%), khai thác đạt 3.856,5 nghìn tấn (giảm 0,5%).

Sản xuất công nghiệp

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2023 ước tăng 3,02% so với năm trước, đây là mức tăng thấp nhất so với bất kỳ năm nào trong giai đoạn 2011-2023. Ngành này đóng góp 1,0 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Trong đó:

  • Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,62%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm (mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2011-2023).
  • Sản xuất và phân phối điện tăng 3,79%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm.
  • Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,18%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm.
  • Công nghiệp khai khoáng giảm 3,17%, làm giảm 0,1 điểm phần trăm.
  • Ngành xây dựng tăng 7,06%, đóng góp 0,51 điểm phần trăm.

Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, lao động

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2023 tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ. Tính chung năm 2023, chỉ số tiêu thụ tăng 1,8% so với năm 2022.

Chỉ số tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12/2023 ước giảm 1,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 19,8% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho bình quân năm 2023 là 87,5%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2023 tăng 0,9% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm trước.

Hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng 12/2023, cả nước có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 7,1% so với tháng trước và tăng 23% so với cùng kỳ; 6.393 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 2,6% và tăng 4,7%.
Tính chung cả năm 2023, cả nước có 217,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 4,5% so với năm trước; bình quân mỗi tháng có 18,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút khỏi thị trường là 172,6 nghìn, tăng 20,5%; bình quân mỗi tháng có 14,4 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường.

Xu hướng kinh doanh

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2023 cho thấy 31,7% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý III/2023. Dự kiến quý I/2024, 31,6% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hơn so với quý IV/2023.

Khoa học và Công nghệ

Đổi mới sáng tạo

Trong năm 2023, cả nước có khoảng 20 trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo cấp địa phương và các trung tâm thuộc các cơ quan, tổ chức trung ương; hơn 1.400 tổ chức có năng lực hỗ trợ khởi nghiệp. Theo công bố của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 xếp hạng 46/132 quốc gia và nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2022.

Chuyển đổi số

Năm 2023, cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có hơn 45 triệu dữ liệu đăng ký khai sinh. Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức đã được kết nối và đồng bộ với 100% các bộ, ngành, địa phương.

Dịch vụ công trực tuyến

Trên Cổng dịch vụ công quốc gia, tính đến ngày 22/12/2023, số thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến là 4.549 thủ tục; 2.604 dịch vụ công cho công dân, 2.414 dịch vụ công cho doanh nghiệp. Số hồ sơ có trạng thái xử lý được đồng bộ lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia là 273,9 triệu hồ sơ; số hồ sơ trực tuyến được xử lý qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia là 33 triệu.

Hoạt động dịch vụ

Thương mại và du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ năm 2023 tăng 6,82% so với năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 ước đạt 565,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ. Quý IV/2023 ước đạt 1.662,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với quý trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ. Cả năm 2023, ước đạt 6.231,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 7,1%).

Vận tải hành khách và hàng hóa

  • Vận tải hành khách: Quý IV/2023 ước đạt 1.272,7 triệu lượt khách, tăng 10,1%; luân chuyển đạt 64,8 tỷ lượt khách.km, tăng 17,9%. Cả năm 2023, ước đạt 4.679,3 triệu lượt khách, tăng 12,3%; luân chuyển đạt 246,8 tỷ lượt khách.km, tăng 24,2%.
  • Vận tải hàng hóa: Quý IV/2023 ước đạt 656,1 triệu tấn, tăng 17%; luân chuyển đạt 131,8 tỷ tấn.km, tăng 7,9%. Cả năm 2023, ước đạt 2.344,3 triệu tấn, tăng 15,4%; luân chuyển đạt 489,7 tỷ tấn.km, tăng 10,8%.

Doanh thu viễn thông

Doanh thu viễn thông quý IV/2023 ước đạt 84,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5%. Cả năm 2023, ước đạt 338,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với năm trước.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Tháng 12, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 1,4 triệu lượt người, tăng 11,2% so với tháng trước và tăng 93,9% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2023, khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 12,6 triệu lượt người, gấp 3,4 lần năm 2022, vượt mục tiêu đề ra nhưng chỉ bằng 70% so với năm 2019 (trước dịch COVID-19).

Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

Thanh khoản, huy động vốn, tín dụng

Tính đến ngày 21/12/2023, tổng phương tiện thanh toán tăng 10,03% so với cuối năm 2022; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 10,85%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 11,09%.

Doanh thu phí bảo hiểm

Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý IV/2023 ước giảm 11,9% so với cùng kỳ. Cả năm 2023, ước đạt 227,1 nghìn tỷ đồng, giảm 8,33% so với năm trước.

Thị trường chứng khoán

Tính đến ngày 15/12/2023, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 17.624 tỷ đồng/phiên, giảm 12,6% so với bình quân năm 2022; thị trường trái phiếu đạt 6.114 tỷ đồng/phiên, giảm 20,4%.

Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý IV/2023 theo giá hiện hành ước đạt 1.164,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳ. Ước tính cả năm 2023, đạt 3.423,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm trước.

Vốn đầu tư nước ngoài (FDI)

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/12/2023 đạt gần 36,6 tỷ USD, tăng 32,1%. Vốn FDI thực hiện tại Việt Nam năm 2023 ước đạt 23,18 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm qua.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài

Năm 2023, Việt Nam có 124 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới với tổng vốn đầu tư của Việt Nam đạt 282,7 triệu USD, giảm 33,7% so với năm trước; có 25 lượt dự án điều chỉnh vốn với vốn điều chỉnh tăng thêm 138,2 triệu USD. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 420,9 triệu USD, giảm 21,2% so với năm trước.

Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 12/2023 ước đạt 159,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế cả năm 2023, tổng thu NSNN ước đạt 1.717,8 nghìn tỷ đồng, bằng 106% dự toán năm và giảm 5,4% so với năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 12/2023 ước đạt gần 229 nghìn tỷ đồng; lũy kế cả năm 2023 ước đạt 1.731,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,4% dự toán năm và tăng 10,9% so với năm trước.

Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ

Xuất nhập khẩu hàng hóa

  • Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu tháng 12/2023 ước đạt 32,91 tỷ USD, tăng 5,7% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ. Quý IV/2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 96,5 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 355,5 tỷ USD, giảm 4,4% so với năm trước. Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 313,73 tỷ USD, chiếm 88,3%.
  • Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu tháng 12/2023 ước đạt 30,63 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Quý IV/2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 90,2 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 327,5 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm trước. Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 307,32 tỷ USD, chiếm 93,8%.
  • Thị trường xuất nhập khẩu: Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 96,8 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 111,6 tỷ USD.
  • Cán cân thương mại: Tháng 12, cán cân thương mại hàng hóa ước xuất siêu 2,28 tỷ USD. Tính chung cả năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước xuất siêu 28 tỷ USD (năm trước xuất siêu 12,1 tỷ USD).

Xuất nhập khẩu dịch vụ

Quý IV/2023, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 5,4 tỷ USD, tăng 15,2%; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 8,1 tỷ USD, tăng 20,4%.
Cả năm 2023, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 19,59 tỷ USD, tăng 44,9% so với năm 2022, trong đó dịch vụ du lịch đạt 9,2 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 29,06 tỷ USD, tăng 5,9%, trong đó dịch vụ vận tải đạt 12,6 tỷ USD, dịch vụ du lịch đạt 7,8 tỷ USD.
Nhập siêu dịch vụ năm 2023 là 9,47 tỷ USD.

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

  • Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Tháng 12/2023 tăng 0,12% so với tháng trước. So với cùng kỳ, CPI tháng 12 tăng 3,58%. Bình quân quý IV/2023 tăng 3,54%. Cả năm 2023, CPI tăng 3,25% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.
  • Chỉ số giá vàng: Tháng 12/2023 tăng 3,98% so với tháng trước; tăng 13,13% so với cùng kỳ. Bình quân năm 2023 tăng 4,16%.
  • Chỉ số giá đô la Mỹ: Tháng 12/2023 giảm 0,56% so với tháng trước; tăng 1,04% so với cùng kỳ. Bình quân năm 2023 tăng 1,86%.

Một số tình hình xã hội

Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình cả nước năm 2023 ước đạt 100,3 triệu người, tăng 834,8 nghìn người, tương đương tăng 0,84% so với năm 2022. Chất lượng dân số được cải thiện.

Tình hình lao động, việc làm quý IV/2023 có nhiều dấu hiệu cải thiện. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước đạt 52,5 triệu người, tăng 113,5 nghìn người so với quý trước. Lao động có việc làm ước đạt 51,5 triệu người, tăng 130,4 nghìn người so với quý trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV/2023 là 2,26%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước. Tính chung cả năm 2023, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,28%.
Thu nhập bình quân của người lao động quý IV/2023 là 7,3 triệu đồng/tháng, tăng 180 nghìn đồng so với quý III/2023. Cả năm 2023, thu nhập bình quân của người lao động là 7,1 triệu đồng/tháng, tăng 6,9% so với năm trước.

Đời sống dân cư và an sinh xã hội

Đời sống hộ dân cư được cải thiện. Công tác an sinh xã hội được các cấp từ trung ương đến địa phương thực hiện kịp thời, thiết thực. Tổng giá trị tiền và quà hỗ trợ các đối tượng tính đến ngày 19/12/2023 là hơn 12,3 nghìn tỷ đồng.

Hoạt động văn hóa, thể thao

Năm 2023, các hoạt động văn hóa diễn ra sôi nổi, tạo hiệu ứng lan tỏa, kết nối đoàn kết giữa người dân cả nước và bạn bè quốc tế. Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và đạt nhiều thành tích nổi bật.

Tai nạn giao thông

Năm 2023, cả nước xảy ra 14.059 vụ tai nạn giao thông, làm chết 20 người, bị thương 16 người và bị thương nhẹ 13 người mỗi ngày (trung bình).

Thiệt hại do thiên tai

Trong năm 2023, thiên tai làm 158 người chết và mất tích; 130 người bị thương; 108,1 nghìn ha lúa và 43,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 98,3 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 30,4 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại tài sản do thiên tai ước tính gần 5.101,5 tỷ đồng, giảm 64,3% so với năm trước.

Kết luận

Nhìn chung, năm 2023 là một năm đầy thách thức nhưng cũng ghi nhận nhiều nỗ lực và thành tựu đáng kể của kinh tế Việt Nam. Với mức tăng trưởng GDP 5,05%, Việt Nam đã chứng tỏ khả năng phục hồi và thích ứng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động. Các chỉ số vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, cùng với sự phát triển bền vững của khu vực nông nghiệp, sự phục hồi của dịch vụ và du lịch, đã tạo nên những điểm sáng quan trọng. Việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và thu hút FDI kỷ lục cũng là những động lực then chốt cho tăng trưởng. Mặc dù còn những khó khăn, đặc biệt trong ngành công nghiệp và thương mại quốc tế, nhưng những kết quả đạt được đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Việt Nam trong những năm tiếp theo.